Đăng bởi: Nguyễn Đình Sinh | Tháng Tám 12, 2011

Tháng bảy âm lịch và các sự tích về : Lễ Vu Lan báo hiếu- Ngày xá tội vong nhân- Ngưu Lang Chức Nữ và 3 bài thơ minh họa- Những mong ước trong ngày lễ Vu Lan

Tháng 7 âm lịch, người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan. Đây là một đại lễ báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên… và những người đã khuất – một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt, thể hiện tấm lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh. Tháng 7 còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang – Chức Nữ. 
1. Xuất xứ lễ Vu Lan. Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.
Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi, tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.
Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách, nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.
Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.
2. Sự tích ngày xá tội vong nhân: 
Sự tích lễ cúng cô hồn như sau: Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất, thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi, mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”. 
A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu : “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”. 
Nhưng lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng. 
3. Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ. Thuở xưa, có vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng tên là Ngưu Lang, vì say mê nhan sắc của một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng thượng đế giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.
Nhưng về sau, Ngọc Hoàng nghĩ lại, thương tình nên ra ơn cho Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hoá thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu (thông thường vào tháng Bảy âm lịch) và gọi họ là ông Ngâu bà Ngâu.
Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả, nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Các phường thợ mộc mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai. Kẻ muốn làm kiểu này, người muốn làm kiểu kia, cãi nhau chí chóe. Đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.
Bị hoá làm quạ, các phường thợ mộc lại càng giận nhau hơn. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh.
Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.
Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.
Theo Bách khoa toàn thư của Wikipedia:
Vu-lan(chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana), hay còn gọi là Tết Trung nguyên, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo, còn được hiểu là lễ báo hiếu. Ngày này còn được gọi là Xá tội vong nhân. Vào ngày này, mọi tù nhân ở Địa ngục đều được xá tội, được lên Dương gian. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, các vong nhân được xá tội nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế thờ cúng.
Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn (盂蘭盆), cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa (烏藍婆拏), là cách phiên âm Phạn-Hán từ danh từ ullambana. Ullambana có gốc từ động từ ud-√lamb, nghĩa là “treo (ngược) lên”. Thế nên các dịch giả Trung Quốc cũng dùng từ Đảo huyền (倒懸), “treo ngược lên” cho từ Vu-lan, chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ Địa ngục[1].

Truyền thuyết

Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước[1].

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm[1]. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ[1].

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu-lan ra đời[1].

Truyền thống lễ nghi

Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 15 tháng 7, hay là ngày 15 tháng 8 (tính theo Âm lịch) để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.

Tại Việt Nam, việc cúng Rằm tháng Bảy bao giờ cũng phải cúng ở chùa (thờ Phật) trước, rồi mới đến cúng tại gia[2]. Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào ban đêm, khi Mặt Trời đã lặn[2][3].

Vào ngày này, mọi gia đình đều cúng hai mâm: cúng tổ tiên tại bàn thờ tổ tiên và cúng chúng sinh ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè (nếu đường rộng), thời gian cúng có thể là vào buổi sáng, trưa hoặc chiều[2]. Trên mâm cúng tổ tiên, gia đình bày đặt một mâm cỗ mặn, tiền vàng và cả những vật dụng dành cho người cõi Âm làm bằng giấy tượng trưng từ những vật truyền thống (giống như đồ thật) như quần áo[4][5], giày dép, tivi, tủ lạnh, máy giặt, ngựa, phương tiện giao thông[5], mũ kepi, người giúp việc [6]… đến những vật hiện đại: Iphone, nhà cao tầng, quạt điện, điều hòa, di động, IPhone…[7][5][4] để cho người cõi Âm có được một cuộc sống tiện nghi giống như người Dương trần.[3] Những đồ lễ đó thường được làm tại một cơ sở sản xuất rồi được xe máy chở đi khắp các tỉnh thành[5][7]. Còn mâm cúng chúng sinh thì lễ vật gồm có: quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc (xanh lam, xanh lá mạ, vàng, hồng…) và bỏng ngô, chè lam, bánh quế, cháo, tiền vàng, cốc gạo trộn muối (cốc này sẽ được rắc ra vỉa hè, sân nhà sau khi cúng xong), ngô, khoai lang luộc, cháo hoa… và những lễ vật khác dành cho những cô hồn, ma đói không nơi nương tựa.[3] (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

 Nguyễn Đình Sinh, Hội viên Hội VHNT Bình Định, giảng viên Đại học Qui Nhơn xin tặng các bạn 3 bài về ý nghĩa  3  ngày nói trên: 

1. Ngày Lễ Vu Lan báo hiếu:

Nguyễn Đình Sinh. MỘT CHIỀU QUÊ MẸ

  Phảng phất đâu đây tóc mẹ trắng chiều

Khói nồng hương rạ cháy sau mùa

Thoang thoảng mùi thơm cơm gạo mới

Cánh sen tím bên hồ nở vội

Thắm đượm lòng con xa bước trở về

Khói lam chiều khói tỏa

Vấn vương sau lũy tre làng

Con lặng lẽ trôi theo làn khói ấy

Khói chiều nay sao vừa dịu vừa cay

Thổn thức trong con dâng đầy nỗi nhớ

Tuổi thơ trên những cánh đồng

Chúng con lớn dần lên trên tấm lưng còng của mẹ

Như con trẻ được về quê nội

Như con nghé ra đồng cỏ mượt

Như con chim theo đàn mải mê

Mùa cứ đến, con lại về

nghé ra đồng và chim làm tổ

Khói lam chiều lan tỏa

Vấn vương sau lũy tre làng…NĐS

2.  Ngày Xá tội vong nhân:  

Nguyễn Đình Sinh. GỌI NGƯỜI  BÊN ẤY

                                               Ngát dâu xanh-bên này bãi sông bồi

Là bờ bên kia sạt lở… cuốn trôi

Phù sa đỏ… núi trên ngàn trơ trọc

Ta miên man trong cười-khóc… mất- còn

Muốn gọi bạn bè ta trong đất trở về

Dự hội làng, mường bản chung vui

Bếp lửa nhà Rông bồi hồi rạo rực

Ngõ nhỏ hương cau thao thức đợi người

Về để nhớ tiếng ru hời bầu bạn…

Điệu lý câu hò… còn đọng đâu đây

Để ôn lại những ngày xanh. xanh ấy

Rồi bạn đi. Về lại với.. mây trời.

NĐS

3. Ngày Ngưu Lang Chức Nữ: 

Nguyễn Đình Sinh. Hội viên Hội VHNT Bình Định

 CHIẾC LÁ THÁNG BẢY

Tháng bảy mưa Ngâu

Có chiếc lá non thổn thức

Bồi hồi rạo rực…

Nép vào ô cửa… bâng khuâng… 

Chợt… vang trời tiếng sét…

Giật mình ngơ ngác con tim

Thao thức… chiếc Cầu Ô Thước

Khát khao. Năm tháng đợi chờ

Sông Ngân… dâng đầy nước mắt

 Cảm ơn trời đã bắc cầu nối nhịp

Cho chúng mình có dịp bên nhau

Khấn… cho mưa hoài, sấm chớp nhiều thêm

Để chiếc lá bên thềm mãi nép vào ô cửa

 Trời đã quang mưa tạnh êm đềm

Cơn bão lòng vẫn ngân rền sấm chớp

Mãi âm vang rạo rực lòng ai

Ước gì tháng bảy còn hoài… quanh năm…

NĐS

 Bài 2. Những mong ước trong ngày lễ Vu Lan. Chùa Quán Sứ (Hà Nội) chiều 12/8 đông nghẹt, bãi đỗ xe ngoài cổng gần như kín chỗ. Bên trong chùa phật tử ngồi la liệt các cầu thang, lối đi khấn vái, tỏ lòng thành kính đối với cha mẹ, tổ tiên 

Nhanh tay sắp lễ gồm hoa quả, bỏng ngô, vàng hương, chị Nguyễn Thùy Linh (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết, sau giờ tan sở, chị vội đến làm lễ. Đã thành thông lệ, năm nào cũng vậy, trước rằm tháng bảy chị đều đến chùa Quán Sứ. “Gia đình bố mẹ vẫn còn nên tôi đến cầu cho các cụ mạnh khỏe, cầu cho các vong hồn trong gia tộc được xá tội, tiên tổ dưới suối vàng phù hộ độ trì cho cả nhà”, chị giải thích. 

Giống như chị Linh, chị Phương Mai (Tây Hồ) từ cơ quan tạt qua chợ rồi đến thẳng chùa Quán Sứ. Chị bảo làm lễ xong mới thấy thanh thản để sau đó hai vợ chồng đưa các con về quê ăn rằm cùng ông bà. “Quê xa không về thăm ông bà thường xuyên được, nhân dịp này gia đình về quê để cả nhà được quây quần ăn bữa cơm chung. Các cụ ở quê rất mong gặp cháu”, chị Mai cho biết. 

chua quan su
Chùa Quán Sứ rất đông người đến làm lễ. Ảnh: Yến Hoa.

 Là sinh viên năm thứ nhất, Hải Yến, ĐH Đại Nam lần đầu tiên đến chùa dịp lễ Vu Lan. Không đồ lễ lỉnh kỉnh như bao khách thập phương, Yến chỉ thắp hương, bỏ tiền công đức và thành tâm khấn vái. Yến chia sẻ bố mất từ khi cô còn nhỏ, mẹ một mình nuôi dạy con gái lớn khôn bằng tình yêu thương của người mẹ và sự nghiêm khắc của người cha.

“Mẹ không bao giờ để mình cảm thấy thiệt thòi hay tủi thân vì vắng cha. Mùa lễ Vu Lan, mình đến thắp hương để cảm tạ trời Phật đã cho mình một người mẹ tuyệt vời, cầu mong cho mẹ luôn mạnh khỏe, vui vẻ. Mình rất muốn nói lời cảm ơn mẹ, nhưng sao khó quá, đành gửi những lời này tới trời Phật vậy”, Yến nói. 

Kim Liên, ĐH Sư phạm Hà Nội, đã dành hẳn một ngày để đi các chùa trong nội thành Hà Nội. Liên nghẹn ngào chia sẻ, bố cô đang ốm rất nặng, cô không biết làm gì ngoài việc lên chùa cầu xin thánh thần phù hộ cho bố sớm qua cơn nguy kịch. “Em chỉ ước người nằm trên giường bệnh kia là mình. Em sẽ đánh đổi tất cả để bố có thể tỉnh dậy…”, nói đến đây cô sinh viên không cầm được nước mắt. 

Còn với Hoàng Anh, sinh viên ĐH Kiến Trúc, ngoài thời gian lên giảng đường, đều đặn hàng ngày cậu đạp xe đến chùa Bằng A, quận Hoàng Mai tham gia khóa tu báo hiếu. Hoàng Anh cho biết rất ít khi đi chùa, nhưng sau khi được một người bạn thuyết phục nên đã đến tham gia thử.

“Ba ngày tham gia khóa tu đã thay đổi con người mình. Mình thực sự hiểu và biết ơn tình yêu, sự hy sinh thầm lặng, cao cả của đấng sinh thành. Mình cũng nhận ra bản thân may mắn hơn rất nhiều người khi được cài hoa đỏ (dành cho những người còn cha mẹ), bởi mình vẫn còn cơ hội để báo hiếu”, Hoàng Anh chia sẻ. 

chua quan su
Đi lễ chùa cùng cha mẹ cũng là một cách để các vị phụ huynh giáo dục con về đạo hiếu. Ảnh: Yến Hoa.

 Trong những ngày này, không khó để bắt gặp nhiều em nhỏ chừng 5-10 tuổi ríu rít theo bố mẹ đi lễ chùa. Chị Phạm Lan Anh sống ở nước ngoài đã lâu, đây là dịp hiếm hoi được trở về Việt Nam. Không có nhiều thời gian, nhưng chị vẫn cố gắng sắp xếp công việc đưa 2 đứa con đến lễ chùa. 

“Lần đầu tiên các cháu trở về Việt Nam, lại đúng dịp rằm tháng bảy, mình muốn đưa các cháu đi thăm một số chùa chiền, đồng thời giáo dục cho các cháu nét truyền thống tốt đẹp của người Việt, đó là luôn nhớ về ông bà, tổ tiên. Các cháu tỏ ra rất thích thú, luôn miệng hỏi về truyền thuyết lễ Vu lan và ngày xá tội vong nhân…”, chị Lan Anh kể.Cô bé 8 tuổi Đinh Mai Hương dường như đã quen với việc đi lễ Vu Lan cùng mẹ. Không rộn ràng như bạn bè cùng trang lứa, bé chỉ lặng lẽ theo mẹ. Chị Ngọc, mẹ bé cho biết, hàng năm cứ đến dịp này là chị và chồng đều đưa con đi lễ chùa, cầu cho cha mẹ hai bên được mạnh khỏe, mong những điều may mắn đến với gia đình. 

Được hỏi về mong ước của mình, bé Hương tít mắt: “Con mong ông bà, bố mẹ luôn mạnh khỏe. Con cũng xin Phật cho chân bố con khỏi đau để còn làm ngựa chơi với con”.

Theo Hòa thượng Thích Thanh Từ, trong đạo Phật, ngày Vu Lan là ngày nói lên tinh thần phục thiện, hối cải của Tăng Ni, vừa gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật, vừa là ngày tha thứ mọi lỗi lầm của chúng sinh. Vì nó mang ý nghĩa quan trọng như vậy nên mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, phật tử đều tụ hội về các chùa để cúng dường cầu nguyện và nghe, hiểu về tinh thần đạo hiếu.  Yến Hoa

Xin kính tặng các bà mẹ VIỆT NAM của chúng ta, những người đã suốt đời tận tụy hy sinh vì những người con thân yêu của mình bản nhạc:  Gánh thời gian.

Bạn có thể nhấp chuột vào mã có gạch chân dưới đây để nghe nhạc:

https://nguyendinhsinh.wordpress.com/2011/08/14/tinh-khuc-ganh-th%E1%BB%9Di-gian-nh%E1%BA%A1c-ph%E1%BB%95-th%C6%A1-c%E1%BB%A7a-nds/

Thơ: Nguyễn Đình Sinh (Giảng viên Trường Đại học Qui Nhơn)

Nhạc sĩ: Lê Trọng Nghĩa (Giảng viên Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Định). 

Ca sĩ: Nguyên Trường (PTV Đài Phát thanh – Truyền hình Bình Định)

Nguyễn Đình Sinh.  GÁNH THỜI GIAN

GÁNH THỜI GIAN

Bước chân mẹ

Nhọc nhằn bên hè phố

Gánh hàng rong

Mẹ bán hết hay còn

Gió hắt hiu

Trời đổ nắng

Trút mây mưa

Tấm lưng còng

Vai gầy.

Chai gồng gánh

Mỏi mòn

Mẹ gánh cả thời gian

Chiều tối dần

Mẹ lẫn vào đêm

Vào gió mưa giá rét

Gánh hàng rong mẹ bán hết hay còn

Gánh hàng rong mẹ bán còn hay hết 

Trong lòng con đau nhói một miền thương.

NĐS

(Ảnh: Bìa Tập thơ: Gánh thời gian. Tác giả Nguyễn Đình Sinh. NXB Đà Nẵng. 22/11/2002)


Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: